Nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Đình Lộc: “Không có gì phải né tránh luật về Đảng”


Để đảm bảo dân chủ, mọi việc Đảng làm dân phải được biết, Đảng cũng phải hoạt động theo pháp luật. Điều lệ Đảng đã khẳng định, mọi tổ chức của Đảng đều hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Khẳng định như vậy nhưng sự lãnh đạo của Đảng lại chưa được thể chế hóa thành luật, cấp ủy đảng dường như đang được hoạt động tự do.

Khánh Linh

Nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Đình Lộc

Đây là ý kiến của nguyên Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc trong cuộc trò chuyện với VietNamNet, góp ý cho dự thảo các văn kiện Đại hội Đảng XI. Góc nhìn của ông Nguyễn Đình Lộc có thể còn cần phải tranh luận, bàn thảo thêm để làm sáng tỏ vấn đề. Trên tinh thần tôn trọng những ý kiến khác biệt mà Đảng luôn kêu gọi, tôn trọng không khí tranh luận cởi mở, VietNamNet giới thiệu nội dung cuộc trò chuyện này. Mời bạn đọc cùng tranh luận.

Chính vị trí cầm quyền của Đảng đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng phải được thể chế hóa thành pháp luật. Làm trái đi là xúc phạm đến sự lãnh đạo của Đảng và thể chế của nhà nước – nguyên Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc.

Họp chi bộ khu phố có bàn thảo gì đâu

Trong bàn tròn nhân 65 năm Quốc khánh, ông đã bàn nhiều về dân chủ, theo nghĩa là mọi người dân đều phải được hưởng quyền làm chủ. Nói về dân chủ trong Đảng, đang có chủ trương mở rộng và phát huy dân chủ trong Đảng bằng việc thực hiện thí điểm ĐH Đảng bầu trực tiếp bí thư, đã qua cấp cơ sở, quận/huyện, giờ là tỉnh/thành. Theo ông, như vậy đã là dân chủ đủ chưa?

Ban Tổ chức Trung ương cũng đang chuẩn bị phương án bầu trực tiếp Tổng bí thư trong ĐH Đảng XI, nghĩa là đang từng bước mở rộng dân chủ.

Như tôi đã từng nói, nhận thức về dân chủ là cả quá trình, không ai có thể tự nói rằng mình đã nhận thức đầy đủ, có một quan niệm rõ ràng về dân chủ. Dân chủ cũng là thói quen, nếp sinh hoạt, không phải dễ dàng mà thực hiện dân chủ, nhất là với những người đang có quyền. Nói đến dân chủ tức là quyền bình đẳng, cấp dưới cũng có thể “đụng chạm” đến anh, nên người có quyền sẽ dễ thấy bị đụng chạm và “e ngại” dân chủ.

Có một thực tế là dường như chính các Đảng viên cũng “ngại” dùng đến quyền dân chủ của mình. Chẳng hạn, rất ít trường hợp các đảng viên chủ động giới thiệu thêm người ra ứng cử vào ban chấp hành, chưa nói đến chuyện tự ứng cử, hay ứng cử cho chức vụ Bí thư? Ngay trong lá phiều bầu cũng nhiều khi thể hiện sự e ngại, bí thư thường được bầu với số phiếu rất cao, nhiều trường hợp cao hơn rất nhiều số phiếu bầu chính người đó vào ban chấp hành? Vì sao lại thế?

Vì ai cũng hiểu những người trong cấp ủy có quyền, bí thư là người có quyền lớn nhất, điều này chi phối hành động của các đảng viên. Nếu mình ứng cử thêm ai vào để “so” với bí thư, sau này dễ phiền phức. Vậy nên các đảng viên đến dự đại hội vẫn chủ yếu phụ thuộc vào danh sách đề cử của cấp ủy khóa trước, trong khi lẽ ra dân chủ phải do ứng cử là chính.

Ngay như chuyện họp chi bộ cũng thế. Tôi về hưu, họp chi bộ ở khu phố, ra họp cũng chủ yếu để nghe phổ biến chứ có bàn thảo gì đâu, ai đó đã quyết định hết rồi. Chúng tôi cũng thấy trong Đảng như thế là chưa dân chủ. Phải thay đổi phương thức sinh hoạt lâu nay.

Hình như tâm lý của ta chưa quen với dân chủ. Ở các nước như thế không ai chịu được, còn ta thì quen rồi, nên tất cả đều chấp nhận, xem đó là bình thường. Mới thấy qua xã hội dân chủ là rất quý, vì rèn cho con người ta biết thực hành dân chủ.

Cứ “bình bình” thì không thể kỳ vọng gì

Với cách làm như hiện nay, khi ta đang từng bước thực hành dân chủ, làm sao chọn được những người đứng đầu ở tầm lãnh tụ để dẫn dắt dân tộc?

Ta đang từng bước tiến hành dân chủ, làm sao có được người như thế thì rất khó. Phải quyết liệt thay đổi cách làm, nhưng chúng ta có thật sự muốn không? Ta sẽ đi đến đâu? Ta có chấp nhận cứ tiếp tục “bình bình” thế này không? Sắp đến là bầu cử Quốc hội, bầu cử Hội đồng Nhân dân, kể cả Đại hội Đảng cũng đã đến ĐH tỉnh/thành rồi, chưa thấy có biến chuyển gì lớn.

Tình hình như thế này thì không thể đột phá, mọi sinh hoạt vẫn theo cách cũ, hy vọng ngay điều gì là rất khó. Cương lĩnh chẳng sửa nhiều, đúng hơn là có sửa nhưng không cơ bản. Rồi những gương mặt có khả năng thành người đứng đầu, không biết có ai ấp ủ gì không, còn nếu nhìn những gì bộc lộ ra ngoài thì chưa thể kỳ vọng gì lớn ở ĐH này.

Chúng ta vẫn đang hiểu Đảng là Đảng lãnh đạo, chứ không phải Đảng cầm quyền như Bác Hồ đã nhấn mạnh trong di chúc của Người. Cần nhớ rằng Đảng cầm quyền là một khái niệm rất phổ biến trên thế giới. Với các nước đa đảng thì mỗi nhiệm kỳ có thể là một đảng khác nhau cầm quyền. Còn ta là một Đảng cầm quyền, vị thế này đã được ghi rõ ràng trong Hiến pháp.

Ông có thể giải thích rõ sự khác nhau giữa Đảng lãnh đạo và Đảng cầm quyền, theo nhận thức của ông?

Theo tôi, khi nói đến Đảng cầm quyền, thì đó là quyền của dân, và dân trao cho Đảng. Đảng không phải đơn vị sản xuất, Đảng là tổ chức lãnh đạo, nghĩa là mọi hoạt động của Đảng đều động chạm đến quyền lực của nhân dân. Vì thế, để đảm bảo dân chủ, mọi việc Đảng làm thì dân phải được biết, Đảng cũng phải hoạt động theo pháp luật. Điều lệ Đảng đã khẳng định, mọi tổ chức của Đảng đều hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Khẳng định như vậy nhưng sự lãnh đạo của Đảng lại chưa được thể chế hóa thành luật, cấp ủy đảng dường như đang được hoạt động tự do. Vấn đề này nhiều người cũng đã nêu ra.

Vì sao lại thế?

Những người lâu nay không có gì ràng buộc, nay thấy mình bị ràng buộc phải pháp luật thì cảm thấy không thoải mái, thấy có gì đó không bình thường. Vấn đề là không quen nên cảm thấy bị đụng chạm.

Nếu hiểu cho đúng, những quy định của pháp luật là để tạo cho mỗi người một khuôn khổ, khuôn khổ đó cần và đủ cho anh thực hiện quyền của anh, làm nhiệm vụ của anh. Đó không phải sự hạn chế mà rất cần thiết cho con người, để anh có thể thực hiện quyền của anh mà không đụng chạm đến quyền của người khác. Như tôi đã nói, một người hưởng dân chủ mà hưởng một cách quá đà sẽ phạm vào dân chủ của người khác, thậm chí cướp quyền dân chủ của người khác.

Điều lệ không thể cao hơn pháp luật

Ta đã có Điều lệ Đảng, mọi đảng viên đều phải tuân theo…

Đúng là Đảng có điều lệ Đảng, theo tôi hiểu thì nhiều lần ĐH có sửa đổi điều lệ Đảng, nghĩa là việc áp dụng điều lệ đó cũng có những vướng mắc nên phải sửa đổi. Nhưng điều lệ chỉ là việc riêng của Đảng, việc tổ chức của Đảng.

Trước đây ta chưa biết đến khái niệm pháp quyền. Đảng trước đây hoạt động bí mật rồi ra công khai, nhờ có Đảng mới giành được chính quyền nên nên toàn dân đều tin Đảng. Còn hiện nay, trong xã hội dân chủ, nhất là ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền, thì cao nhất là pháp luật, điều lệ không thể cao hơn pháp luật.

Trong cơ chế thị trường, rất dễ động chạm đến lợi ích. Nếu không rạch ròi, sòng phẳng, thì có thể có sai lầm. Chính vị trí cầm quyền của Đảng đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng phải được thể chế hóa thành pháp luật, để dân còn biết mà làm theo. Nếu làm trái đi là xúc phạm đến sự lãnh đạo của Đảng, xúc phạm đến thể chế của nhà nước. Nếu nhận thức như thế, sẽ thấy việc luật hóa quyền lãnh đạo của Đảng là rất cần thiết, và không có gì phải né tránh cả. Đảng cầm quyền phải được thể chế hóa bằng pháp luật, nhất là trong điều kiện là Đảng cầm quyền duy nhất.

Đảng đã có điều lệ thì có thể thể chế hóa điều lệ đó để thành luật. Mọi tổ chức của Đảng, từ Bộ Chính trị là cấp cao nhất đến cấp ủy cơ sở đều phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Tôi nhắc lại là điều này đã được điều lệ Đảng khẳng định rồi.

Ranh giới quyền hạn

Nghĩa là mọi đảng viên đều thuộc đối tượng, phạm vi điều chỉnh của luật?

Luật sẽ thể chế hóa phương thức lãnh đạo của Đảng. Những đảng viên bình thường, vì thế, sẽ không phải là đối tượng điều chỉnh của luật. Đối tượng của luật là các cấp ủy, là cấp lãnh đạo. Như ở một xã thì bí thư đảng ủy xã là người lãnh đạo, thì phải lãnh đạo như thế nào? Pháp luật đương nhiên không hạn chế ông, nhưng chỉ rõ cho ông và cả mọi người dân trong xã biết ông được làm những gì, ông sẽ lãnh đạo như thế nào.

Trong luật cũng sẽ phân định rõ mọi quan hệ giữa Đảng với Nhà nước, với Chính phủ (hành pháp), Quốc hội (lập pháp) và Tòa án (tư pháp). Bộ Chính trị đã có nghị quyết bảo đảm sự độc lập của Tòa án, nhưng cần phải thể chế hóa thành pháp luật, còn không thì chỉ là sự độc lập nói chung, trên nguyên tắc.

Chính Đảng phải thật sự gương mẫu trong việc tuân thủ pháp luật, để “lôi kéo” quần chúng đi theo mình. Bản thân Đảng cũng phải cảnh giác, vì mỗi người đều có thể mắc sai lầm, không nên nghĩ mọi quyết định, chủ trương đề ra của Đảng đều đúng trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Chẳng hạn, ta có Ban quản trị tài chính quyết định những vấn đề tài chính, kinh tế, quyền lợi liên quan đến hệ thống Đảng. Như thế có đúng không? Tiền thuế của dân đóng góp, Đảng có thể chi tiêu tùy ý không?

Chính pháp luật sẽ giúp Đảng biết đâu là ranh giới của quyền hạn.

Chính pháp luật cũng khiến dân có thể giám sát dễ hơn, và như thế sẽ tin Đảng hơn. Cần lưu ý là không điều gì qua được mắt dân. Dân biết hết, nhiều điều dân không chấp nhận, nhưng dân không dám phản ứng công khai. Chính những sự không minh bạch, công khai khiến niềm tin của dân với Đảng dễ lung lay. Mà niềm tin của dân là vấn đề sống còn của Đảng, nếu không cảnh giác thì sẽ mất niềm tin đó.

—-

“Đã đến lúc phải có luật cho Đảng cầm quyền

Ngay như Hiến pháp xác định Đảng lãnh đạo thì cũng phải có luật cho Đảng cầm quyền, nghĩa là lãnh đạo theo luật cho chính danh. Không nên kéo dài tình trạng người đứng đầu các cấp uỷ lãnh đạo chánh quyền mà khi phải chịu trách nhiệm trước dân lại là người đại diện cho tập thể cấp uỷ, không phải một cá nhân cụ thể, sai hoài không sửa được là do không chính danh là vậy.

LTS: Ông Nguyễn Minh Nhị, từng làm Chủ tịch UBND tỉnh An Giang đã gửi tới Tuần Việt Nam bài góp ý cho Đại hội Đảng XI. Góc nhìn của ông có thể có nhiều chỗ cần phải tranh luận, bàn thảo thêm để làm sáng tỏ vấn đề. Trên tinh thần tôn trọng những ý kiến khác biệt mà Đảng luôn kêu gọi, tôn trọng không khí tranh luận cởi mở, Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài viết của ông Nguyễn Minh Nhị. Mời bạn đọc cùng tranh luận.

Đảng hoá thân vào nhà nước để chính danh đảng cầm quyền

Nhìn lại hoạt động của kỳ họp Quốc hội lần thứ 7, khoá XII, nhất là ngày họp cuối cùng, chiều thứ Bảy ngày 19/6/2010 như đánh dấu cho sự ĐỔI THAY của QH khoá XIII sắp tới. Và như vậy, QH khoá XI, XII, được ghi dấu son là QH ĐỔI MỚI. QH ĐỔI MỚI đồng thời với công cuộc đổi mới  của đất nước, trước hết và chủ yếu là về kinh tế 25 năm qua.

Ánh hào quang chiến thắng đế quốc Mỹ và niềm tin “tự nhiên” vào thiết chế Nhà nước và mô hình quản lý kinh tế – xã hội của Liên – Xô, nhất là của Miền Bắc VN đang vận dụng theo mô hình ấy – vốn phù hợp với thời chiến. Nghĩa là cứ phát huy cái có sẳn, đẩy mạnh quyết tâm thực hiện những công việc đang làm, trên tinh thần “thắng Mỹ thì cái gì cũng làm được”. Làm luôn cái việc tự trói mình. Mười năm sơ cứng là vậy. Đến khi không thể chịu nổi, đứng trước sự mất còn của chế độ mới tự cởi trói bung ra, tìm đường ĐỔI MỚI!.

Đổi mới thật sự là trở lại gần như cũ (làm mới cái cũ), như nhà cũ sửa sang, sơn phết cho sáng sủa hơn. Nếu sơn sửa kiểu này thấy không được (hoặc bị chê) thì làm mới kiểu khác, hoặc thậm chí trở lại như chưa đổi mới cũng dễ dàng, không bị cho là “phá cách”, “mất lập trường”. Nhưng phải công nhận rằng nhờ có đổi mới mà kinh tế đời sống có phát triển, chính trị xã hội có cởi mở.

Song nhịp độ tiến bộ vẫn không theo kịp đổi thay như giông bão của thời cuộc trên phạm vi toàn cầu về chánh trị, kinh tế, khoa học công nghệ, quan hệ giửa các cường quốc, các dân tộc, giửa các nền văn minh và thái độ ứng xử với thiên nhiên – biến đổi khí hậu v.v… Chính vì chậm mà bị tụt hậu trên nhiều phương diện, thậm chí có những vấn đề lại trầm trọng hơn như hiệu quả đầu tư ngày một kém, dân chủ còn gò bó và hình thức, đạo đức xã hội và cả tư cách đảng viên cán bộ có bộ phận không nhỏ cứ ngày một sa sút, tham nhũng, lãng phí, nhất là lãng phí không đo đếm được ngày một lan rộng…

Đã đến lúc phải ĐỔI THAY để tiếp tục sự nghiệp ĐỔI MỚI. Vậy ĐỔI THAY cái gì? Tất nhiên là toàn diện, có kế thừa thành quả đổi mới, trong đó nền tảng là thiết kế lại thể chế chánh trị, nhất thể hoá Đảng và Nhà nước, người đứng đầu tổ chức Đảng đồng thời là người đứng đầu Nhà nước và chánh quyền các cấp, lảnh đạo các ban của đảng cũng đồng thời lảnh đạo các cơ quan chuyên môn của chánh quyền (cho gọn lại và sát thực tế hơn của cơ quan tham mưu của đảng). Vậy mới chính danh là đảng cầm quyền (thay cho khái niệm lãnh đạo) và người của đảng chịu trách nhiệm cá nhân trước cử tri mới là chính diện.

Tiếp theo là bước cải cách hệ thống nhà nước theo thiết chế cộng hoà dân chủ như nguyên chủ tịch quốc hội Nguyễn văn An trả lời phỏng vấn trên Tuần Việt Nam Net mới đây, mổi tiếng nói của lập pháp, hành pháp và tư pháp có tính độc lập theo Hiến pháp và luật pháp thì mới thật sự chánh ngôn. Chỉ có như vậy mới thật sự khắc phục được tình trạng chồng chéo, thiếu trách nhiệm, nhiều kẻ hở, sót người sót việc mà ta hay nói là còn “bất cập”, là do “cơ chế”. Do cơ chế nhưng không phải ai cũng muốn sửa, bởi người ta hưởng lợi từ cơ chế ấy nhiều mà khó buộc phải chịu trách nhiệm!. Vậy nên phải ĐỔI THAY, không chỉ ĐỔI để cho MỚI!.

Phải thừa nhận rằng quá trình lập pháp và dân chủ xã hội có nhiều tiến bộ sau ĐỔI MỚI, như luật tổ chức HĐND và UBND những năm 1976 và trước cuối năm 1989 qui định HĐNH tỉnh chỉ có thư ký, chủ tịch UBDN  huyện, xã đồng thời là chủ tịch HĐND. HĐND không có trụ sở riêng. ĐỔI MỚI có khắc phục hình thức này, có tổ chức chất vấn tại các kỳ hợp, có truyền hình trực tiếp, nhưng suy cho cùng thì cũng chỉ mới thay đổi hình thức, quyền làm chủ của công dân và của cử tri cũng chưa có tiến bộ gì rõ rệt.

Biết bao lời hứa, sau hợp (kể cả ở Quốc hội) rồi có mấy việc được khắc phục, lần sau lại hỏi, lại trả lời như lần trước, có nhiều việc như dần lân như vấn đề giá lúa và nông thuỷ sản, vấn đề ô nhiểm, úng ngập, kẹt xe, thủ tục hành chánh phiền hà, tham nhủng, tệ nạn xã hội v.v… Nhiều vị trong UBND hoặc Chủ tịch HĐND bị chất vấn bí quá nói việc nầy “do” hoặc “chờ xin ý kiến cấp uỷ”, ngay như tại cơ quan QH mà cũng có tình hình tương tự hoặc nói với cơ quan dân cử mà như nói với hội nghị đảng viên “việc nầy đảng đã quyết rồi”… cũng đủ nói lên sự bức xúc phải THAY ĐỔI!.

Ta đang tiến hành chuẩn bị bỏ HĐND cấp quận, huyện và phường cũng là dấu hiệu chín mùi, cấp thiết về sự THAY ĐỔI ở cơ quan dân cử địa phương: Bớt hình thức mà tăng chất lượng dân chủ. Và tại kỳ hợp thứ 7 QH khoá XII cũng là tín hiệu phát đi theo hướng đó.

Lấy dân làm trung tâm, mọi thay đổi sẽ không lạc hướng

Vậy ĐỔI THAY phải bắt đầu từ đâu?. Cũng như Đại Hội VI – ĐỔI MỚI của Đảng là phải từ THAY ĐỔI  tư duy, trên cơ sở quan điểm, lập trường của Đại Hội VI là lấy dân làm gốc. ĐỔI THAY trong khung cảnh thế giới đã thay đổi từ những thập niên cuối thế kỷ XX.

Thay đổi từ trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, các nước thế giới thứ ba và ngay trong hệ thống các nước tư bản phát triển kể cả nước Mỹ. Những quan hệ truyền thống gửa các nước với nhau từng là phe, là khối, là đồng minh, đồng chí, bạn thù …đều đã đổi thay về chất. Cách mạng khoa học kỷ thuật tiến như vũ bão, theo cấp số nhân. Cách mạng công nghiệp đang có những bước tiến xa mà thế giới chưa tìm ra mô hình để không lập lại khủng hoảng kinh tế mà nhân loại nghèo khổ hiện đang là nạn nhân của nó.

Việt Nam cũng đã đổi thay qua 25 năm đổi mới nên mới tồn tại và phát triển như ngày hôm nay, nhưng phần nhiều là phát triển theo chiều rộng, “quảng canh” nên thành quả là những con số cộng. Ngay như mức tăng trưởng kinh tê như hiện nay và có thể đến 9%/năm thì năm 2020 làm sao thoát khỏi “cái bẩy phát triển trung bình” để đạt mục tiêu cơ bản trở thành một nước công nghiệp hoá?. Vậy là phải THAY ĐỔI tư duy.

Đổi mới tư duy đã một phần tư thế kỷ rồi, cũ rồi, nay không còn phù hợp. Vậy THAY ĐỔI thế nào để không lạc hướng?. Phải lấy dân làm trung tâm. Khaí niệm dân là gốc ra đời trong xã hội nông nghiệp, người ta có thể dựa hoặc không dựa vào gốc cũng không sao, mà thường thì người lúc mạnh có khi không dựa. Mười năm sau giải phóng vì ta không dựa vào nông dân, không nghe dân để dừng lại cải tạo công – nông – thương nghiệp nên nằm trên dựa lúa nhất nước mà đói, mọi hoạt động của xã hội dân sự gần như ngưng đọng lại. Dựa vào dân để tồn tại, lo cho dân là để “bền gốc bén rễ” (rồi cũng để dựa).

Vậy khái niệm “dựa” vốn không còn phù hợp với thời đại công nghiệp và xã hội dân chủ. Lấy dân làm trung tâm thì mọi suy nghĩ và hành động của cơ quan quyền lực và dịch vụ chánh phủ đều phải hướng về trung tâm quyền lực mà phục vụ. Mất trung tâm thì mất quyền lực, như trục trái đất mất sức hút thì vật chất trên bề mặt của nó sẽ bay lơ lững vậy. Dân là gốc hay dân là trung tâm đều phù hợp với triết lý Hồ Chí Minh “Đại đoàn kết toàn dân tộc”. Là triết lý “bất biến”, có khả năng “ứng vạn biến” trong mọi tình thế đã qua, đặc biệt là trong tình hình thế giới đầy phức tạp và luôn biến động hiện nay. Dân là chủ mà ta  chưa có luật hỏi ý kiến nhân dân (trưng cầu dân ý).

Ngày xưa chưa có chánh quyền, thông qua các tổ chức, nhất là các đoàn thể để hỏi dân từng việc cụ thể, nay cách làm đó, kể cả của các cơ quan “thăm dò dư luận xã hội” đều không chính xác và nhất là không có tính pháp lý. Tư duy phải gắn với hành động mới ra thành quả. Nhiều tư duy mới nhưng hành động bị chặn lại là do hành lang pháp lý không còn phù hợp, trở thành rào cản. Vậy phải sửa luật. Sửa luật lại động đến Hiến pháp. Vì vậy Quốc hội chủ trương sửa Hiến pháp là chính xác.

“Đã đến lúc phải có luật cho Đảng cầm quyền

Ngay như Hiến pháp xác định Đảng lãnh đạo thì cũng phải có luật cho Đảng cầm quyền, nghĩa là lãnh đạo theo luật cho chính danh. Không nên kéo dài tình trạng người đứng đầu các cấp uỷ lãnh đạo chánh quyền mà khi phải chịu trách nhiệm trước dân lại là người đại diện cho tập thể cấp uỷ, không phải một cá nhân cụ thể, sai hoài không sửa được là do không chính danh là vậy.

THAY ĐỔI theo tinh thần như trình bày ngắn gọn trên, chánh thể dân chủ cộng hoà , dựa trên lý tưởng hiện thựcDân tộc độc lập, xã hội dân chủ tự do, gia đình ấm no hạnh phúc. Đó là một chế độ chánh trị do Đảng cộng sản cầm quyền là chánh danh, người đứng đầu các cơ quan quyền lực là chánh diện và mọi chỉ thị hay phát ngôn của người ở các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp làchánh ngôn. Đây thật sự là tiền đề, là động lực cho đất nước tiếp tục phát triển, không còn có cơ hội để tự trói mình một lần nửa, không còn chổ “núp lùm” của người thiếu năng lực, đạo đức; sự nghiệp đổi mới tiếp tục tiến lên, rút ngắn khoảng cách với phần còn lại của các nước khu vực và thế giới./.

Theo VNN

About these ads