Thiên đường thuế


Rửa tiền, chuyển giá đều có đường dây mối nhợ với những đảo quốc “thiên đường thuế”. Mặc dù thế giới đã đưa ra nhiều biện pháp ngăn chặn nhưng mỗi năm vẫn mất khoảng 200 tỉ USD vì những hoạt động lách luật này.

Nhóm PV

cty me conThế giới có 50-60 thiên đường thuế, phần lớn tập trung ở vùng Caribê, một số bang của Mỹ (như Delaware), châu Âu, Đông Nam Á, khu vực Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Đây là nơi lập trụ sở pháp lý của hơn 2 triệu công ty hình thức, hàng ngàn ngân hàng, quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm và ít nhất là phân nửa số tàu đã đăng ký có trọng tải trên 100 tấn.

Không thể biết chính xác số tiền đăng ký ở những thiên đường thuế này cũng như bao nhiêu trong số ấy là hợp pháp. Trên 30% lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài được đăng ký thông qua các thiên đường thuế.

Bắt đầu từ những năm 1990, thế giới chứng kiến sự dịch chuyển “trụ sở” của các tập đoàn lớn sang các đảo quốc nhỏ gần như vô danh trên bản đồ thế giới. Mục tiêu mà các tập đoàn này nhắm đến là chính sách thuế vô cùng thuận lợi tại các quốc gia này, thậm chí có nơi doanh nghiệp không phải nộp một đôla thuế nào cho chính phủ. Do vậy, không có gì ngạc nhiên khi biết rằng một tập đoàn lớn của Mỹ lại có trụ sở chính đặt tại British Virgin Islands (BVI – quần đảo thuộc Anh, ở vùng biển Caribê) mặc dù vẫn tuyên bố mình là một công ty Mỹ.

“Thiên đường” được chọn

Độ lớn của vấn đề tiền bẩn trong lĩnh vực tài chính hải ngoại vẫn còn là chủ đề gây tranh cãi gay gắt. Các nhà kinh tế học tại Global Financial Integrity (tạm dịch “Liêm chính tài chính toàn cầu), một nhóm do Raymond Baker sáng lập chuyên nghiên cứu các tội danh liên quan đến tài chính, cho rằng dòng tài chính bất hợp pháp – được định nghĩa là tiền kiếm được, chuyển khoản hoặc sử dụng một cách phi pháp – trị giá ít nhất 5.900 tỉ USD đã chảy ra khỏi các quốc gia đang phát triển trong vòng 10 năm qua.

Nhờ vào chính sách thuế thông thoáng, thủ tục thành lập dễ dàng, chi phí duy trì doanh nghiệp thấp, bảo mật được danh tính cổ đông và quyền tự chủ trong việc thiết lập mô hình doanh nghiệp, trong những năm qua số lượng doanh nghiệp chuyển trụ sở sang các đảo quốc này ngày càng lớn. Sau khi đăng ký thành lập và nộp lệ phí, doanh nghiệp gần như có một vỏ ốc an toàn mà không ai “dòm ngó” đến tình hình hoạt động kinh doanh lãi lỗ của mình.

Cũng do chính sách quản lý lỏng lẻo hay nói khác hơn là không hề có quy chế ràng buộc các doanh nghiệp đang hoạt động tại đây, các quốc gia thiên đường thuế đang đối mặt với nhiều chỉ trích và cáo buộc từ cộng đồng.

Financial Action Task Force (*) đã đưa vào danh sách đen một số quốc gia thiên đường thuế do không hợp tác và không tuân thủ với nỗ lực chung toàn cầu trong việc chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố. Lý do đơn giản là vì các quốc gia này không yêu cầu nộp thuế nên không có cơ chế kiểm soát dòng tiền. Dẫn đến hệ lụy là các tệ nạn rửa tiền, tài trợ khủng bố, chuyển giá, trốn thuế… đã diễn ra mà ít bị phát hiện, nói cách khác là khó bị phát hiện.

Thụy Sĩ chẳng hạn, là một trong những trung tâm tài chính lớn nhất thế giới nhưng cũng là một trong những thiên đường trốn thuế lớn nhất. Nước này đứng đầu danh sách Chỉ số bí mật tài chính 2011. Thụy Sĩ đang giữ 1/3 số tài sản tư nhân ở nước ngoài trên toàn thế giới, tương đương khoảng 2.000 tỉ USD.

Có hai cách để Thụy Sĩ duy trì vị thế “quỹ đen” của cả thế giới. Thứ nhất, quốc gia này duy trì chính sách trung lập trong các xung đột quốc tế khiến sau nhiều thập kỷ, những cuộc chiến tranh nối tiếp ở châu Âu cũng đồng thời giúp ngành ngân hàng Thụy Sĩ – nơi duy nhất có hòa bình – nở rộ và vì vậy được tin cậy gửi gắm tài sản. Từ năm 1934, Thụy Sĩ đã thông qua đạo luật quy định vi phạm bí mật ngân hàng là tội hình sự, bị phạt tiền và tù giam. Dần dần quốc gia này trở thành nơi lưu giữ tài sản ở nước ngoài lớn nhất trên thế giới và cũng là thiên đường trốn thuế lớn nhất.

Tuy nhiên, điều này đang thay đổi khi nhiều cường quốc bắt đầu thấy sự thiếu minh bạch của ngành ngân hàng ở đây là khó chấp nhận. Năm 2008, nhà chức trách Mỹ phát hiện UBS, ngân hàng quyền lực nhất Thụy Sĩ, dính líu tới các hoạt động phạm pháp ở Mỹ. Các nhân viên UBS sau đó bị buộc phải tuyên thệ sẽ tiết lộ những thủ thuật nhằm trốn thuế.

Một năm sau, nhóm G20 đe dọa sẽ đưa các ngân hàng Thụy Sĩ vào danh sách đen và cấm vận ngành tài chính nước này nếu như Thụy Sĩ không ít ra là giảm bớt sự bảo mật với các hoạt động ngân hàng.

Từ năm 2009 tới nay, khoảng 30.000 người đóng thuế ở Mỹ đã phải tiết lộ thông tin tài khoản của họ tại Thụy Sĩ. UBS buộc phải dàn xếp với nhà chức trách Mỹ để tránh bị truy tố, trả khoản phạt 780 triệu USD và giao lại thông tin của 250 tài khoản bí mật cũng như công bố một phần thông tin 4.450 tài khoản. Tuy nhiên, cuộc chiến sẽ còn cam go với lợi ích cũng như quyền lực rất lớn của những người gửi tiền ở đây.

Họ đã làm gì?

Theo tính toán của Tổ chức Global Financial Integrity, các giao dịch xuyên biên giới giữa các công ty cùng chung tập đoàn bị bóp méo giá cả và hoạt động mậu dịch giữa các bên với chứng từ bị làm sai lệch chiếm đến 2/3 dòng tiền bất hợp pháp (hay khả nghi) chảy ra khỏi các nước nghèo. Tổ chức này tin rằng giá trị giao dịch giữa các công ty “cùng mẹ” chiếm 50-60% tổng giá trị mậu dịch toàn cầu. 

Các thiên đường trốn thuế khiến bất công xã hội ngày càng lớn khi những người nghèo phải trả cả phần thuế của những người giàu, thậm chí là giàu nhất trong xã hội. Một ví dụ là tập đoàn bia và nước giải khát SAB Miller, công ty bia lớn thứ hai thế giới, với doanh thu hằng năm 12 tỉ bảng (18,2 tỉ USD) và lợi nhuận 2 tỉ bảng (3 tỉ USD), có trụ sở ở London (Anh). Tập đoàn này đã dùng các thủ thuật chuyển giá để trốn thuế trong nhiều năm.

Tập đoàn đa quốc gia này có hoạt động ở cả sáu châu lục, nhưng số chi nhánh giả mạo được lập ra để trốn và tránh thuế của SAB Miller có khi còn nhiều hơn số chai bia họ sản xuất. Hầu hết lợi nhuận của hãng được chuyển sang các thiên đường thuế từ những nước châu Phi, nơi luật lệ không rõ ràng và còn thiếu thốn đủ thứ, giúp họ tránh những khoản thuế khổng lồ.

Chẳng hạn ở Ghana – nước nghèo thứ 28 trên thế giới, chi nhánh của hãng này, Accra Brewery, bán ra lượng bia trị giá 29 triệu bảng mỗi năm (44 triệu USD) nhưng liên tục báo lỗ trong giai đoạn 2007-2010 và chỉ đóng thuế thu nhập doanh nghiệp ở một trong bốn năm đó. Ngược lại SAB Miller toàn cầu công bố lợi nhuận trước thuế tăng 16% năm 2009. Tính tổng cộng, các nước đang phát triển tổn thất khoảng 20 triệu bảng (30,4 triệu USD) tiền thuế từ SAB Miller, đủ để giúp một phần tư triệu trẻ em tới trường.

Các thiên đường thuế giúp những ngân hàng “đại gia” lách các luật lệ về an toàn tài chính, có thể gây ra rủi ro hệ thống rất lớn cho nền kinh tế, làm băng hoại thị trường, che giấu giao dịch nội gián và khuyến khích các công ty đa quốc gia trốn thuế mà vụ Enron nổi tiếng là một ví dụ điển hình.

Từng được coi là hình mẫu kinh doanh của thế kỷ 21, Enron đệ đơn phá sản cuối năm 2001 và các điều tra viên phát hiện hãng này có… 881 chi nhánh đăng ký ở nước ngoài, nhiều hơn bất cứ công ty Mỹ nào khác. Trong số đó, riêng số chi nhánh đăng ký ở quần đảo Cayman, một thiên đường thuế nổi tiếng, là… 692.

Trong giai đoạn 1996-2000, Enron có lợi nhuận trước thuế khoảng 1,8 tỉ USD nhưng không đóng một xu nào cho ngân sách liên bang Mỹ. Nhưng đó chưa phải là điều đáng kinh ngạc nhất: họ còn được hoàn thuế 381 triệu USD trong khoảng thời gian đó!

Con số bớt ngạc nhiên hơn nếu bạn biết rằng Enron đã chi 3,5 triệu USD trong giai đoạn 1999-2000 để vận động hành lang cho việc nới lỏng quản lý và miễn giảm thuế doanh nghiệp. Họ cũng đã chi 88 triệu USD thuê đội ngũ pháp lý hùng hậu nhằm tìm mọi kẽ hở pháp luật để trốn thuế. Khoảng 2.700 trang tài liệu trong báo cáo cho Thượng viện Mỹ ước tính phải mất 10 năm để tìm hiểu chi tiết các hoạt động trốn thuế của Enron.

Họ làm như thế nào?Một trong những thủ đoạn chính doanh nghiệp áp dụng để tránh thuế là phương thức được biết đến với tên gọi chuyển giá. Theo luật lệ quốc tế, những giao dịch giữa các công ty con phải được định giá giống như đây là những giao dịch do các bên không có quan hệ gì với nhau thực hiện.

Mặc dù vậy, trong thực tế giá cả sẽ được điều chỉnh nhằm chuyển lợi nhuận đến các quốc gia đánh thuế thấp, còn chi phí được chuyển sang các nước đánh thuế cao. Giao dịch càng phức tạp thì việc chuyển giá này càng dễ thực hiện. Nhiều công ty con đặt tại các thiên đường thuế chỉ là những công ty hình thức tồn tại để nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ rồi tính phí sử dụng bản quyền đối với các công ty khác của tập đoàn mẹ hoặc cung cấp các dịch vụ khác với giá cao hơn giá thị trường.

Chuyển giá (thật ra là định giá sai) thỉnh thoảng còn được sử dụng để đẩy chi phí về các nước có chính sách trợ giá hấp dẫn, đặc biệt là trong các ngành khai khoáng. Đây là mánh lới chính trong chiến lược thuế của các tập đoàn đa quốc gia.

Các công ty công nghệ, vốn có vô vàn bản quyền trí tuệ để thuyên chuyển lòng vòng, chính là những bậc thầy của nghệ thuật chuyển giá. Google là một ví dụ. Công ty này tránh khoản thuế 2 tỉ USD vào năm 2011 bằng cách chuyển gần 10 tỉ USD vào một công ty tại Bermuda, quốc gia không đánh thuế doanh nghiệp.

Bermuda là trụ sở về mặt pháp lý dành cho mục đích thuế của một công ty con thuộc Google đặt tại Ireland để thu tiền bản quyền của một chi nhánh Ireland khác vốn có doanh thu từ quảng cáo bán ra khắp châu Âu (một cơ cấu chuyển giá được đặt tên là “Double Irish”, tạm dịch “Hai người Ireland”).

Để tránh thuế thu nhập tại Ireland, Google thêm món “Dutch Sandwich” (“Sandwich Hà Lan”) vào thực đơn né thuế của mình rồi chuyển tiền đến Bermuda thông qua một công ty hình thức ở Hà Lan. Kết quả sau cùng là người ta gần như không tìm ra mối liên hệ nào giữa nơi hoạt động kinh tế diễn ra và nơi lợi nhuận được đăng ký.

___________

(*): Tổ chức chống rửa tiền do các nước G7 thành lập năm 1989.

___________

Việc sử dụng khác biệt về luật thế giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau để trốn, tránh thuế có lẽ cũng có lịch sử lâu đời như chính thuế khóa vậy. Từ Hi Lạp cổ đại tới thời đại toàn cầu hóa, sự biến hóa của các thiên đường trốn thuế ngày nay là một hành trình dài.

Tổn thất của các nước do thu nhập bị đẩy sang những thiên đường trốn thuế chỉ là phần nổi của tảng băng. Thiệt hại không chỉ nằm ở những con số mà ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của mỗi quốc gia dù rất khó nhận biết. Vì thế, các nước đã tuyên chiến với những hoạt động phi pháp này.

Các nước đã làm gì?

Tháng 3-2010, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã ký ban hành đạo luật tuân thủ thuế nước ngoài (FATCA), nhắm vào những ai tìm cách trốn thuế ở Mỹ bằng cách che giấu tài sản hoặc không khai báo các tài khoản ngân hàng ở nước ngoài.

Tại Hội nghị thượng đỉnh G20 ở London tháng 4-2009, 20 quốc gia đã đồng ý lập một danh sách đen những thiên đường thuế, bao gồm bốn mức phân định: những thiên đường thuế có tiêu chuẩn thuế cơ bản; những thiên đường thuế đã cam kết nhưng chưa thực hiện đầy đủ các tiêu chuẩn thuế; những trung tâm tài chính đã cam kết nhưng chưa thực hiện đầy đủ các tiêu chuẩn thuế; những thiên đường thuế không hề có cam kết về tiêu chuẩn thuế.

FATCA yêu cầu các định chế tài chính nước ngoài, với định nghĩa rất rộng bao gồm không chỉ ngân hàng mà cả các công ty môi giới chứng khoán, quỹ đầu tư rủi ro, quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm, quỹ tín thác… báo cáo trực tiếp với nhà chức trách Mỹ về tất cả cá nhân và pháp nhân Mỹ có tài sản ở đó.

Từ đầu năm nay, FATCA cũng yêu cầu các định chế tài chính nước ngoài báo cáo thường niên tên và địa chỉ của mỗi khách hàng Mỹ cho cơ quan thuế vụ liên bang, nếu không tuân thủ có thể sẽ bị Mỹ trừng phạt, bao gồm cấm hoạt động ở Mỹ. Ngoài ra, FATCA cũng yêu cầu mọi công dân và người có thẻ xanh của Mỹ sở hữu tài sản trên 50.000 USD ở nước ngoài phải khai báo tài sản theo một mẫu khai báo riêng.

Tại Đức, Peer Steinbruck, cựu bộ trưởng tài chính, đã vạch kế hoạch sửa đổi pháp luật tài chính hiện tại, cấm các công ty chuyển tiền sang một số quốc gia nằm trong danh sách đen thiên đường trốn thuế. Năm 2008, Đức tuyên bố đã trả 4,2 triệu euro (5,4 triệu USD) cho Heinrich Kieber, một chuyên viên lưu trữ dữ liệu ở ngân hàng Liechtenstein LGT Treuhand, để có danh sách 1.250 khách hàng và tài khoản của ngân hàng này. Những cuộc điều tra và bắt giữ sau đó đã phát hiện hàng loạt vụ trốn thuế ở Đức.

Nhà chức trách Đức đã chia sẻ thông tin này với nhà chức trách Mỹ. Chính quyền Liechtenstein sau đó đã cáo buộc Đức tiến hành hoạt động gián điệp trên lãnh thổ nước họ. Vụ việc đã làm dấy lên tranh luận dữ dội trong cuộc chiến chống trốn thuế và việc bảo vệ bí mật của các nhà băng.

Một số quốc gia trên thế giới đang áp dụng chính sách thu thuế tại nguồn, đơn cử như nếu là cư dân của châu Âu đầu tư vào các khu vực thiên đường thuế có thể phải bị khấu trừ tại nguồn 20% tổng thu nhập và được chuyển về cho các quốc gia mà cư dân đó mang quốc tịch. Tuy vậy, chính sách này vẫn khó áp dụng triệt để do hầu hết quốc gia thiên đường thuế cho phép nhà đầu tư sử dụng tên người khác (cho người khác đứng tên thay – nominee).

Như vậy, nếu người đứng tên thay không mang quốc tịch của các nước có thỏa hiệp về việc khấu trừ thuế tại nguồn thì việc thu thuế gần như là không thể.

Việt Nam ra tay

Tại Việt Nam, British Virgin Islands (BVI) nằm trong danh sách 10 quốc gia và vùng lãnh thổ dẫn đầu trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài, trong đó một số quỹ đầu tư có tên tuổi tại Việt Nam là những công ty có nguồn gốc từ BVI. Ngoài ra, trong thời gian qua các giao dịch mua bán, sáp nhập, chuyển nhượng doanh nghiệp Việt Nam đã được các nhà tư vấn “cơ cấu” thực hiện thông qua doanh nghiệp BVI với mục tiêu giảm thiểu số thuế thu nhập từ chuyển nhượng.

Sau một thời gian hoạt động khá suôn sẻ ở Việt Nam, những nhà đầu tư có pháp nhân thuộc các đảo này giờ không thể lộng hành như xưa. Các nhà đầu tư đến từ các quốc gia này hiện đang gặp một số khó khăn nhất định do các cơ quan cấp phép đã áp dụng chính sách quản lý đầu tư khắt khe hơn. Chẳng hạn, khi lập văn phòng đại diện tại Việt Nam, nhà đầu tư sẽ phải nộp báo cáo kiểm toán.

Thời gian gần đây, các cơ quan cấp phép đã áp dụng yêu cầu này cho việc thành lập doanh nghiệp dù chưa có văn bản chính thức. Yêu cầu này tưởng như đơn giản cho tất cả nhà đầu tư là doanh nghiệp nhưng có thể là không thể thực hiện được đối với nhà đầu tư đến từ các quốc gia thiên đường thuế. Nếu nhà đầu tư giải trình rằng họ không có các tài liệu này do luật của nước họ không yêu cầu thì sẽ không được chấp nhận.

Trong dự thảo nghị định thay thế nghị định 108/2006 hướng dẫn Luật đầu tư 2005, yêu cầu này sẽ được luật định và là rào cản cho các nhà đầu tư đến từ các quốc gia đặc biệt này.

Lĩnh vực xuất nhập khẩu và phân phối tại Việt Nam hiện đang là một trong các lĩnh vực có sức hút mạnh mẽ đối với những nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên theo nghị định 23/2007, chỉ có các nhà đầu tư đến từ các quốc gia là thành viên WTO mới được cấp phép cho các hoạt động này. Trong khi đó, hầu hết quốc gia thiên đường thuế chỉ là một quốc gia hay vùng lãnh thổ nhỏ và không phải là thành viên của WTO nên việc đầu tư vào Việt Nam trong lĩnh vực này hiện nay không còn khả thi.

Vấn đề chuyển giá cũng được Việt Nam đặc biệt chú trọng trong thời gian qua sau khi phát hiện hàng loạt tập đoàn lớn, trong đó có nhiều công ty sở hữu bởi nhà đầu tư đến từ các quốc gia thiên đường thuế, không phát sinh lãi hoặc chỉ phát sinh lãi với con số rất khiêm tốn so với tổng doanh thu tại Việt Nam. Hàng loạt biện pháp đã được thực hiện như ban hành thông tư 66/2010 thay thế thông tư cũ để điều chỉnh chặt chẽ hơn hoạt động chuyển giá, các đợt tập huấn đồng loạt với quy mô lớn cũng đã được thực hiện để nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ.

“Điều đó cho phép chúng tôi nhận định rằng nếu các quốc gia thiên đường thuế hợp tác với Việt Nam thì có khả năng nhiều hành vi chuyển giá sẽ được phanh phui trong thời gian tới” – luật sư Hoàng Nguyễn Hạ Quyên, Công ty luật LNT & Partners, cho biết.

Cảnh giác xu hướng mới

“Điều đó cho phép chúng tôi nhận định rằng nếu các quốc gia thiên đường thuế hợp tác với Việt Nam thì có khả năng nhiều hành vi chuyển giá sẽ được phanh phui trong thời gian tới”

Luật sư
Hoàng Nguyễn Hạ Quyên
(Công ty luật LNT & Partners)

Làm sao để vẫn được hưởng những chính sách thuế ưu đãi đặc biệt nhưng không muốn bị xem là nhà đầu tư đến từ các quốc gia nằm trong danh sách đen? Hiện đã xuất hiện một xu hướng mới, nhiều nhà đầu tư lớn cũng như nhà đầu tư có cổ phiếu niêm yết đã quyết định rời khỏi các quốc gia thiên đường thuế. Có lẽ yêu cầu về minh bạch và công bố thông tin được xem là yêu cầu tối thượng cho các nhà đầu tư này là một trong những lý do để luận giải việc thay đổi chiến lược đầu tư của họ.

Đích đến mới được các tập đoàn đa quốc gia tính toán là những quốc gia hội tụ các yếu tố sau đây: thành viên của WTO, lĩnh vực mở cửa cho nhà đầu tư nước ngoài đa dạng, mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân thấp, môi trường kinh doanh minh bạch, thông thoáng, đã ký kết nhiều hiệp định song phương, trong đó có hiệp định chống đánh thuế hai lần… Ở khu vực châu Á, Singapore dường như đáp ứng cao nhất các yêu cầu này và hiện đang là quốc gia mà hầu hết tập đoàn trên toàn thế giới lựa chọn để đặt trụ sở chính cho khu vực châu Á.

Có thể nhận thấy các tập đoàn đa quốc gia thường thiết lập một số công ty quản lý (holding company) để nắm vốn đầu tư vào các công ty khác. Với đội ngũ luật sư cố vấn hàng trăm người, họ luôn tìm ra được phương thức và cấu trúc đầu tư thông qua những quốc gia có chính sách thuế ưu đãi tốt nhất.

Hệ thống quản lý đã trở nên quá phức tạp đến nỗi cần phải có một cách tiếp cận hoàn toàn mới. Một đề xuất thú vị là đánh thuế hợp nhất nhắm đến những hoạt động ở các nơi chúng thật sự diễn ra chứ không phải ở những nơi một nhà tư vấn thuế nào đó đã chuyển chúng đến. Trong trường hợp đó, doanh nghiệp sẽ phải soạn một bộ sổ sách kế toán thống nhất và lợi nhuận toàn cầu của họ sẽ được phân chia theo công thức cộng tài sản, doanh số bán hàng và các thông số khác tại từng quốc gia.Cách thức này đang được sử dụng ở một vài hệ thống liên bang, trong đó có hầu hết các bang của Mỹ. Tuy nhiên, đánh thuế hợp nhất cũng gặp phải những thách thức. Việc thống nhất với nhau về nơi mà các giao dịch kinh tế diễn ra trong một thế giới đầy rẫy dịch vụ và tài sản vô hình là rất rắc rối.
so lieu

___________

(*) Các số liệu trong bài lấy từ serecyjurisdictions.com và taxjustice.net.

___________

Chuyển giá là cách thức mà các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) thường dùng ở VN để chuyển lợi nhuận về công ty mẹ mà chẳng phải đóng đồng thuế nào ở nơi sản xuất kinh doanh. Một trong những vụ việc được phát hiện và xử lý thành công hiếm hoi là vụ một số doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực trà ở Lâm Đồng.

Phó cục trưởng Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Văn Từa nhớ lại: “Đây là vụ chống chuyển giá và trốn thuế doanh nghiệp của các công ty FDI quy mô lớn mà tỉnh Lâm Đồng tiến hành. Chỉ 17 doanh nghiệp nhưng phải mất gần một năm mới hoàn thành hồ sơ chứng minh những kê khai của doanh nghiệp không chính xác. Sự thật là nhiều năm liền những doanh nghiệp này trốn thuế thu nhập doanh nghiệp và có hành vi chuyển giá”.

Hành vi lạ vào tầm ngắm

“Các doanh nghiệp liên tục khai lỗ nhưng vẫn tiếp tục tăng quy mô sản xuất. Nhà xưởng vẫn được mở rộng, trang thiết bị đắt tiền vẫn tiếp tục được nhập về. Rất lạ” – ông Từa nhận định. Mức thua lỗ được khai gần bằng tổng vốn đầu tư các doanh nghiệp này cộng lại, khoảng 317 tỉ đồng. Doanh nghiệp càng lớn kêu lỗ càng nhiều. Có những doanh nghiệp số tiền lỗ cao hơn cả số vốn đầu tư. Đặc biệt có doanh nghiệp báo tổng thua lỗ gấp bốn lần mức vốn đầu tư như Công ty HY báo lỗ 47,6 tỉ (vốn pháp định 11,2 tỉ đồng).

“Nếu đúng như những gì các doanh nghiệp này đã báo cáo với cơ quan thuế thì khả năng kinh doanh của họ không có, đằng này sản lượng xuất khẩu của họ vẫn tăng đều từ khi thành lập” – ông Từa kể.

Theo cơ quan thuế tỉnh Lâm Đồng, các doanh nghiệp nằm trong diện nghi vấn của tổ kiểm tra đều có phương thức đầu tư khép kín, các trang thiết bị, nguồn đầu tư đều xuất phát từ các công ty mẹ tại Đài Loan. Trà thành phẩm sau đó được xuất về đúng địa chỉ các công ty mẹ với giá rẻ hơn giá thị trường nhiều lần.

Ở một động thái khác, các trang thiết bị nhập đều được các công ty này nâng giá nhằm tăng chi phí đầu tư, hợp thức hóa việc khai lỗ. Việc này bị phát hiện khi nhóm kiểm tra so sánh giá trên chứng từ mua bán thiết bị với giá thị trường của đơn vị cung cấp thiết bị.

Ngành thuế ra tay

Ông Từa thừa nhận quá trình nhóm kiểm tra chống chuyển giá thu thập thông tin để chứng minh các doanh nghiệp này đang xuất khẩu tốt và thu lợi nhuận rất cao gặp không ít khó khăn nhưng quyết tâm làm bằng được. Theo ông Từa, thông tin về tình hình sản xuất của doanh nghiệp FDI quá ít. Nhóm công tác phải thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, chủ yếu từ các cơ quan quản lý nhà nước như Chi cục Hải quan, Chi cục An toàn thực phẩm… để tìm ra những số liệu mâu thuẫn với những gì các doanh nghiệp đã khai báo.

Chứng minh doanh nghiệp không thua lỗ đồng nghĩa với việc có thể truy thu thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, để xác định mức truy thu cần phải xác định được khoản lãi của các doanh nghiệp này. Việc xác định giá xuất khẩu thực tế của doanh nghiệp được tiến hành.  Để chứng minh các doanh nghiệp FDI khai báo lỗ giả phải huy động nhiều cơ quan cùng phối hợp thì việc chứng minh các công ty đang bán trà bằng giá ảo lại chủ yếu dựa vào so sánh thực tế.

Các tờ khai về giao dịch với các đối tác nước ngoài gửi cơ quan thuế đều cho thấy các doanh nghiệp bị nghi chuyển giá đã không định giá xuất khẩu phù hợp với giá thị trường trong thời điểm đó. Giá trà thành phẩm trong năm 2010 được kê khai trung bình 5,9 USD/kg. Để chứng minh các doanh nghiệp này đang tung giá ảo, tổ kiểm tra chống chuyển giá đã tham khảo quy trình chế biến của các doanh nghiệp trong nước cùng ngành, cùng quy mô và đưa ra phân tích đơn giản. Để có 1kg trà Oolong thành phẩm thì cần 5kg nguyên liệu chè búp tươi. Theo thời giá thì tổng chi phí cho nguyên liệu là 8,5 USD, chưa kể nhiều chi phí khác.

Nhóm kiểm tra nhận ra một điểm bất thường khác đang diễn ra ngay tại thị trường trà trong nước: chính những sản phẩm của các doanh nghiệp FDI này lại được bán với giá cao hơn giá xuất khẩu 18 lần (khoảng 1,2 triệu đồng/kg). Ông Từa thừa nhận việc công ty con và công ty mẹ tự thỏa thuận giá khiến cơ quan thuế không thể kiểm soát được. “Các hóa đơn chứng từ đều không phù hợp thời giá, chứng minh bằng phương pháp so sánh thời giá là biện pháp duy nhất trong thời điểm này” – chuyên gia thuế này kết luận.

Thừa nhận lãi

Sáu cuộc họp được tiến hành với 17 doanh nghiệp trong diện nghi vấn, nhóm kiểm tra đã đưa ra lập luận của mình, 12 doanh nghiệp bị kiểm tra đã tự điều chỉnh giá xuất khẩu bình quân lên 8,4 USD/kg, năm doanh nghiệp từ chối xác định lại giá cho phù hợp với giá hiện hành. Cơ quan thuế phải lấy giá trung bình trên thị trường ấn định giá trà xuất khẩu cho doanh nghiệp này. Sau đó, các doanh nghiệp này phải thừa nhận chuyển giá và đang kinh doanh có lãi. Sau khi xử lý “lỗ”, các doanh nghiệp tại Đà Lạt và Bảo Lộc đã công khai mức lãi gần 50 tỉ đồng.

Kết quả của đợt chống chuyển giá mà Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng tiến hành cuối năm 2010 đã thu về cho ngân sách tỉnh Lâm Đồng 5,8 tỉ đồng. Ông Nguyễn Văn Từa cho rằng thu về lớn nhất không phải là tiền mà là bộ khung chống chuyển giá và trốn thuế thu nhập doanh nghiệp trong lĩnh vực thu mua chế biến nông sản được hình thành, giảm thất thu với một tỉnh thu nhập ngân sách chủ yếu dựa vào nông nghiệp.

Hoạt động ở Việt Nam hàng thập kỷ nhưng Coca-Cola vẫn khai lỗ. Sự bất hợp lý này hiện chưa được cơ quan thuế giải mã - Ảnh: Thuận Thắng

Hoạt động ở Việt Nam hàng thập kỷ nhưng Coca-Cola vẫn khai lỗ. Sự bất hợp lý này hiện chưa được cơ quan thuế giải mã – Ảnh: Thuận Thắng

Là một trong những nhà đầu tư nước ngoài mở rộng mạnh mẽ kênh phân phối ở VN, nhưng Metro vẫn báo lỗ tại thị trường này - Ảnh: Thuận Thắng

Là một trong những nhà đầu tư nước ngoài mở rộng mạnh mẽ kênh phân phối ở VN, nhưng Metro vẫn báo lỗ tại thị trường này – Ảnh: Thuận Thắng

Người dân Anh phản đối Starbucks khắp các đường phố London vì cho rằng công ty này kiếm được hàng tỉ bảng Anh nhưng chẳng đóng đồng thuế nào - Ảnh: thiisbath.co.uk

Người dân Anh phản đối Starbucks khắp các đường phố London vì cho rằng công ty này kiếm được hàng tỉ bảng Anh nhưng chẳng đóng đồng thuế nào – Ảnh: thiisbath.co.uk

Thu nhập của người nông dân trồng trà chẳng là bao so với nguồn lợi khủng của các công ty kinh doanh trà trốn thuế. Cần trả lại công bằng cho họ - Ảnh: Mai Vinh

Thu nhập của người nông dân trồng trà chẳng là bao so với nguồn lợi khủng của các công ty kinh doanh trà trốn thuế. Cần trả lại công bằng cho họ – Ảnh: Mai Vinh

Thực hiện: HẢI MINH – VIỆT TOÀN – MAI VINH – HẠ QUYÊN

Theo TTCT

About these ads

2 thoughts on “Thiên đường thuế

  1. Các thiên đường trốn thuế khiến bất công xã hội ngày càng lớn khi những người nghèo phải trả cả phần thuế của những người giàu, thậm chí là giàu nhất trong xã hội. Vấn đề về thuế vấn mãi sẽ là chủ đề nóng và được đem ra bàn luận tranh cãi mà chưa biết bao giờ đến hồi kết vì thực sự nhiều nước các chính sác , luật về thuế vẫn hết sức lỏng lẻo tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trốn thuế như một sự kích cầu kinh tế.

  2. Các thiên đường thuế giúp những ngân hàng “đại gia” lách các luật lệ về an toàn tài chính, có thể gây ra rủi ro hệ thống rất lớn cho nền kinh tế, làm băng hoại thị trường, che giấu giao dịch nội gián và khuyến khích các công ty đa quốc gia trốn thuế mà vụ Enron nổi tiếng là một ví dụ điển hình. Như ở Việt Nam , một doanh nghiệp nước ngoài như Coca cola làm ăn phát đạt là thế mà mỗi năm vẫn trốn thuế nợ thuế nhà nước hàng chục tỷ đồng là điều không thể chấp nhận được. Họ chiếm thị phần kinh doanh nước giải khát lớn nhất ở nước ta mà năm nào cũng kêu lỗ lấy lý do đó biện minh cho hành vi trốn thuế .

Bình luận đã được đóng.